|
Tạng Luật Đại Phẩm Tỳ-khưu Indacanda Nguyệt Thiên dịch
VI. CHƯƠNG DƯỢC PHẨM
[25] Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi (Xá Vệ), Jetavana (Kỳ Viên), tu viện của ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc). Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu bị nhiễm cơn bệnh vào mùa thu khiến cháo đã húp vào bị ói ra, thức ăn đã ăn vào bị mửa ra. Vì thế, các vị trở nên ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân. Đức Thế Tôn đã nhìn thấy các vị tỳ khưu ấy ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân, sau khi nhìn thấy đã bảo đại đức Ānanda rằng: - Này Ānanda, điều gì khiến các vị tỳ khưu trong lúc này lại ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân vậy? - Bạch ngài, trong lúc này các vị tỳ khưu bị nhiễm cơn bệnh vào mùa thu khiến cháo đã húp vào bị ói ra, thức ăn đã ăn vào bị mửa ra. Vì thế, các vị trở nên ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân. Sau đó, đức Thế Tôn trong lúc thiền tịnh ở nơi thanh vắng có ý nghĩ suy tầm như vầy đã sanh khởi: “Trong lúc này các vị tỳ khưu bị nhiễm cơn bệnh vào mùa thu khiến cháo đã húp vào bị ói ra, thức ăn đã ăn vào bị mửa ra. Vì thế, các vị trở nên ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân. Vậy ta nên cho phép các vị tỳ khưu loại dược phẩm gì mà chính loại dược phẩm ấy tuy đã được quy định là dược phẩm lại có thể được dùng theo mục đích của thức ăn cho cơ thể, nhưng không được xem là loại thức ăn thông thường?” Khi ấy, đức Thế Tôn đã khởi ý điều này: “Năm loại dược phẩm này như là bơ lỏng (sappi), bơ đặc (navanītaṃ), dầu ăn (telaṃ), mật ong (madhu), đường mía (phāṇitaṃ) là các loại dược phẩm, tuy đã được quy định là dược phẩm và được dùng theo mục đích của thức ăn cho cơ thể, nhưng không được xem là loại thức ăn thông thường; có lẽ ta nên cho phép các tỳ khưu được thọ lãnh năm loại dược phẩm này đúng thời và thọ dụng đúng thời?” Sau đó vào lúc chiều tối, đức Thế Tôn xuất khỏi thiền tịnh rồi nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: - Này các tỳ khưu, ở đây ta trong lúc thiền tịnh ở nơi thanh vắng có ý nghĩ suy tầm như vầy đã sanh khởi: “Trong lúc này các vị tỳ khưu bị nhiễm cơn bệnh vào mùa thu khiến cháo đã húp vào bị ói ra, thức ăn đã ăn vào bị mửa ra. Vì thế, các vị trở nên ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân. Vậy ta nên cho phép loại dược phẩm gì cho các tỳ khưu mà chính loại dược phẩm ấy tuy đã được quy định là dược phẩm lại có thể được dùng theo mục đích của thức ăn cho cơ thể, nhưng không được xem là loại thức ăn thông thường?” Này các tỳ khưu, ta đây đã khởi ý điều này: “Năm loại dược phẩm này như là bơ lỏng (sappi), bơ đặc (navanītaṃ), dầu ăn (telaṃ), mật ong (madhu), đường mía (phāṇitaṃ) là các loại dược phẩm tuy đã được quy định là dược phẩm và được dùng theo mục đích của thức ăn cho cơ thể, nhưng không được xem là loại thức ăn thông thường; có lẽ ta nên cho phép các tỳ khưu được thọ lãnh năm loại dược phẩm này đúng thời và thọ dụng đúng thời?” Này các tỳ khưu, ta cho phép thọ lãnh năm loại dược phẩm ấy đúng thời và thọ dụng đúng thời. [1] [26] Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu sau khi nhận lãnh năm loại dược phẩm ấy đúng thời và thọ dụng đúng thời. Các vị đã không ăn các loại thức ăn thô thông thường và (ăn) các loại (thức ăn) có dầu mỡ còn ít hơn nữa. Các vị không những đã bị nhiễm cơn bệnh vào mùa thu ấy lại thêm vào việc không chịu thu nạp thức ăn này nữa, vì hai điều ấy vóc dáng (của các vị) càng trở nên ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, tăng vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân hơn trước kia nữa. Và đức Thế Tôn đã nhận thấy các vị tỳ khưu ấy có vóc dáng càng ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, tăng vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân hơn trước kia nữa, sau khi nhìn thấy đã bảo đại đức Ānanda rằng: - Này Ānanda, trong lúc này điều gì khiến các vị tỳ khưu có vóc dáng càng ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, tăng vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân hơn trước kia nữa? - Bạch ngài, trong lúc này các vị tỳ khưu sau khi nhận lãnh năm loại dược phẩm ấy đúng thời và thọ dụng đúng thời. Các vị đã không ăn các loại thức ăn thô thông thường và (ăn) các loại (thức ăn) có dầu mỡ còn ít hơn nữa. Các vị không những đã bị nhiễm cơn bệnh vào mùa thu ấy lại thêm vào việc không chịu thu nạp thức ăn này nữa, vì hai điều ấy vóc dáng (của các vị) càng trở nên ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, tăng vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân hơn trước kia nữa. Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: - Này các tỳ khưu, ta cho phép thọ lãnh năm loại dược phẩm này và thọ dụng đúng thời luôn cả phi thời. [27] Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu bị bệnh có nhu cầu về các loại dược phẩm là các loại mỡ (thú vật). Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, ta cho phép thọ dụng chung với dầu ăn các loại dược phẩm là các loại mỡ (thú vật) như mỡ gấu, mỡ cá, mỡ cá sấu, mỡ heo rừng, mỡ lừa đã được thọ lãnh đúng thời, đã được nấu đúng thời, và đã được trộn chung đúng thời. Này các tỳ khưu, nếu vật ấy đã được thọ lãnh phi thời, đã được nấu phi thời, và đã được trộn chung phi thời, vị thọ dụng (vật ấy) phạm ba tội dukkaṭa (tác ác). Này các tỳ khưu, nếu vật ấy đã được thọ lãnh đúng thời, đã được nấu phi thời, và đã được trộn chung phi thời, vị thọ dụng (vật ấy) phạm hai tội dukkaṭa (tác ác). Này các tỳ khưu, nếu vật ấy đã được thọ lãnh đúng thời, đã được nấu đúng thời, và đã được trộn chung phi thời, vị thọ dụng (vật ấy) phạm tội dukkaṭa (tác ác). Này các tỳ khưu, nếu vật ấy đã được thọ lãnh đúng thời, đã được nấu đúng thời, và đã được trộn chung đúng thời, vị thọ dụng (vật ấy) vô tội. [28] Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu bị bệnh có nhu cầu về các loại dược phẩm là các loại rễ cây. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, ta cho phép các loại dược phẩm là các loại rễ cây như củ nghệ, củ gừng, rễ cây vacaṃ (?),[2] rễ cây vaca trắng (?), rễ cây ngải cứu, rễ cây kaṭukarohiṇī (?), rễ loại cây có mùi thơm usīra (?), rễ loại cỏ có mùi thơm bhaddamuttaka (?), hoặc có các loại dược phẩm là các rễ cây khác nữa (tuy) thuộc về loại vật thực cứng nhưng không được dùng theo mục đích của vật thực cứng và (tuy) thuộc về loại vật thực mềm nhưng không được dùng theo mục đích của vật thực mềm. Sau khi thọ lãnh các loại ấy, được cất giữ đến trọn đời và được thọ dụng khi có duyên cớ; vị thọ dụng khi không có duyên cớ phạm tội dukkaṭa (tác ác). Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu bị bệnh có nhu cầu về các loại dược phẩm dạng bột là các loại rễ cây. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) cối đá xay và cối đá xay loại nhỏ. [29] Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu bị bệnh có nhu cầu về các loại dược phẩm là các loại nước sắc. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, ta cho phép các loại dược phẩm là các loại nước sắc như nước sắc của cây nimba (?), nước sắc của cây kuṭaja (?), nước sắc của loại dưa dài paṭola (?), nước sắc của loại dây leo phaggava (?), nước sắc của cây nattamāla (?), hoặc có các loại dược phẩm là các loại nước sắc khác nữa (tuy) thuộc về loại vật thực cứng nhưng không được dùng theo mục đích của vật thực cứng và (tuy) thuộc về loại vật thực mềm nhưng không được dùng theo mục đích của vật thực mềm. Sau khi thọ lãnh các loại ấy, được cất giữ đến trọn đời và được thọ dụng khi có duyên cớ; vị thọ dụng khi không có duyên cớ phạm tội dukkaṭa (tác ác). [30] Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu bị bệnh có nhu cầu về các loại lá cây làm dược phẩm. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, ta cho phép các loại lá cây làm dược phẩm như lá cây nimba (?), lá cây kuṭaja (?), lá cây của loại dưa dài paṭola (?), lá cây húng quế, lá cây bông vải, hoặc có các loại dược phẩm là các loại lá cây khác nữa (tuy) thuộc về loại vật thực cứng nhưng không được dùng theo mục đích của vật thực cứng và (tuy) thuộc về loại vật thực mềm nhưng không được dùng theo mục đích của vật thực mềm. Sau khi thọ lãnh các loại ấy, được cất giữ đến trọn đời và được thọ dụng khi có duyên cớ; vị thọ dụng khi không có duyên cớ phạm tội dukkaṭa (tác ác). [31] Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu bị bệnh có nhu cầu về các loại dược phẩm là các loại trái cây. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, ta cho phép các loại dược phẩm là các loại trái cây như trái cây vilaṅga (?), hạt tiêu dài (pipphali), hạt tiêu đen (marica), trái cây harītaka (?), trái cây vibhītaka (?), trái cây āmalaka (?), trái cây goṭha (?) hoặc có các loại dược phẩm là các loại trái cây khác nữa (tuy) thuộc về loại vật thực cứng nhưng không được dùng theo mục đích của vật thực cứng và (tuy) thuộc về loại vật thực mềm nhưng không được dùng theo mục đích của vật thực mềm. Sau khi thọ lãnh các loại ấy, được cất giữ đến trọn đời và được thọ dụng khi có duyên cớ; vị thọ dụng khi không có duyên cớ phạm tội dukkaṭa (tác ác). [32] Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu bị bệnh có nhu cầu về các loại nhựa cây làm dược phẩm. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, ta cho phép các loại nhựa cây làm dược phẩm như hiṅgu (?), nhựa cây hiṅgu (hiṅgujatu), mủ cây hiṅgu (hiṅgusipātika), các loại sản phẩm từ mủ cây là taka (?), takapatti (?), takapaṇṇi (?), nhựa thông (sajjulasa), hoặc có các loại dược phẩm là các loại nhựa cây khác nữa (tuy) thuộc về loại vật thực cứng nhưng không được dùng theo mục đích của vật thực cứng và (tuy) thuộc về loại vật thực mềm nhưng không được dùng theo mục đích của vật thực mềm. Sau khi thọ lãnh các loại ấy, được cất giữ đến trọn đời và được thọ dụng khi có duyên cớ; vị thọ dụng khi không có duyên cớ phạm tội dukkaṭa (tác ác). [33] Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu bị bệnh có nhu cầu về các loại dược phẩm là các loại muối. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, ta cho phép các loại dược phẩm là các loại muối (loṇa) như muối biển (sāmudda), muối đen (kāḷaloṇa), muối ở đá (sindhava), muối nấu ăn (ubbhida), muối mỏ (bila), hoặc có các loại dược phẩm là các loại muối khác nữa (tuy) thuộc về loại vật thực cứng nhưng không được dùng theo mục đích của vật thực cứng và (tuy) thuộc về loại vật thực mềm nhưng không được dùng theo mục đích của vật thực mềm. Sau khi thọ lãnh các loại ấy, được cất giữ đến trọn đời và được thọ dụng khi có duyên cớ; vị thọ dụng khi không có duyên cớ phạm tội dukkaṭa (tác ác). [34] Vào lúc bấy giờ, thầy tế độ của đại đức Ānanda là đại đức Velaṭṭhasīsa có bệnh ghẻ sần sùi (thullakacchābādho). Các y của vị ấy bị dính vào thân vì chất máu mủ. Các vị tỳ khưu liên tục tẩm ướt các y với nước và kéo ra. Đức Thế Tôn trong khi đi dạo quanh các chỗ trú ngụ đã nhìn thấy các vị tỳ khưu ấy liên tục tẩm ướt các y với nước và kéo ra, sau khi nhìn thấy đã đi đến gần các vị tỳ khưu ấy, sau khi đến gần đã nói với các vị tỳ khưu ấy điều này: - Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu này bị bệnh gì vậy? - Bạch ngài, đại đức này bị bệnh ghẻ sần sùi, các y bị dính vào thân vì chất máu mủ, chúng con liên tục tẩm ướt các y với nước và kéo ra. Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: - Này các tỳ khưu, ta cho phép các loại dược phẩm là các loại bột tắm đến vị bị ghẻ ngứa, hoặc bị nhọt, hoặc có vết thương chảy mủ, hoặc bị ghẻ sần sùi, hoặc cơ thể có mùi hôi, và phân bò (chakana), đất sét (mattika), chất màu đã được nấu (rajananipakka) đến vị không bị bệnh. Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) cối giã và chày. [35] Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu bị bệnh có nhu cầu về các loại dược phẩm là các loại bột tắm đã được rây mịn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) cái rây bột tắm. Có nhu cầu về hạt rất mịn. - Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) cái rây bằng vải. [36] Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh liên quan đến phi nhân. Các vị thầy dạy học và thầy tế độ thường xuyên chăm sóc vị ấy nhưng không thể làm cho khỏi bệnh. Vị ấy đã đi đến lò mổ heo ăn thịt sống và uống máu tươi. Bệnh liên quan đến phi nhân của vị ấy giảm bớt. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) thịt sống và máu tươi trong khi bị bệnh liên quan đến phi nhân. [37] Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh ở mắt. Các tỳ khưu đã khiêng vị ấy đưa ra bên ngoài cho việc tiểu tiện, đại tiện. Đức Thế Tôn trong khi đi dạo quanh các chỗ trú ngụ đã nhìn thấy các vị tỳ khưu ấy đang khiêng vị tỳ khưu ấy đưa ra bên ngoài cho việc tiểu tiện, đại tiện, sau khi nhìn thấy đã đi đến gần các vị tỳ khưu ấy, sau khi đến gần đã nói với các vị tỳ khưu ấy điều này: - Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu này có bệnh gì vậy? - Bạch ngài, đại đức này có bệnh ở mắt. Chúng con khiêng vị này đưa ra bên ngoài cho việc tiểu tiện, đại tiện. Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: - Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) thuốc bôi, thuốc bôi màu đen, thuốc bôi loại tinh chất, thuốc bôi vào tai, bột phấn đỏ, muội đèn. Có nhu cầu về bột mịn để làm thuốc bôi. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) gỗ đàn hương, loại cây có mùi hương tagara (?), gỗ trầm (kāḷānusāri), gỗ cây tālīsa (?), loại cỏ có mùi thơm bhaddamuttaka (?). Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu để các loại thuốc bôi được nghiền nát ở trong các tô nhỏ và trong các chén. Chúng đã bị rác cỏ, bụi bặm rơi vào. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) hộp chứa thuốc bôi. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư sử dụng các hộp chứa thuốc bôi loại đặc biệt làm bằng vàng, làm bằng bạc. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - Giống như các kẻ tại gia hưởng dục vậy? Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, không nên sử dụng các hộp chứa thuốc bôi loại đặc biệt; vị nào sử dụng thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Này các tỳ khưu, ta cho phép (hộp chứa thuốc bôi) làm bằng xương, làm bằng ngà răng, làm bằng sừng, làm bằng ống sậy, làm bằng tre, làm bằng gỗ, làm bằng nhựa cây, làm bằng trái cây, làm bằng đồng, làm bằng vỏ sò. Vào lúc bấy giờ, các hộp chứa thuốc bôi không được đậy lại. Chúng đã bị rác cỏ, bụi bặm rơi vào. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) nắp đậy. Nắp đậy bị rơi xuống. - Này các tỳ khưu, ta cho phép buộc (nắp đậy) với sợi chỉ rồi buộc vào hộp chứa thuốc bôi. Hộp chứa thuốc bôi bị bung ra. - Này các tỳ khưu, ta cho phép khâu lại bằng sợi chỉ. Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu dùng ngón tay bôi thuốc. Các con mắt bị đau. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) que bôi thuốc. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư sử dụng các que bôi thuốc loại đặc biệt làm bằng vàng, làm bằng bạc. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - Giống như các kẻ tại gia hưởng dục vậy? Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, không nên sử dụng các que bôi thuốc loại đặc biệt; vị nào sử dụng thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Này các tỳ khưu, ta cho phép làm bằng xương, làm bằng ngà răng, làm bằng sừng, ...(như trên)..., làm bằng vỏ sò. Vào lúc bấy giờ, que bôi thuốc bị rơi trên mặt đất và trở nên sần sùi. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) hộp đựng que bôi thuốc. Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu mang theo hộp chứa thuốc bôi và các que bôi thuốc bằng tay. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) túi đựng các hộp chứa thuốc bôi. Dây mang vai không có. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) dây mang vai là chỉ thắt lại. [38] Vào lúc bấy giờ, đại đức Pilindavaccha bị nóng ở đầu. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, ta cho phép (bôi) dầu ở trên đầu. (Vị ấy) không được thuyên giảm. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, ta cho phép (thực hiện) việc chữa trị ở mũi. Mũi bị chảy nước. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) cái muỗng đặt ở mũi (natthukaraṇī). Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư sử dụng các muỗng đặt ở mũi loại đặc biệt làm bằng vàng, làm bằng bạc. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - Giống như các kẻ tại gia hưởng dục vậy? Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, không nên sử dụng các muỗng đặt ở mũi loại đặc biệt; vị nào sử dụng thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Này các tỳ khưu, ta cho phép làm bằng xương, làm bằng ngà răng, làm bằng sừng, ...(như trên)..., làm bằng vỏ sò. (Hai lỗ) mũi đã không được nhỏ đồng đều. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) cái muỗng đặt ở mũi loại kép. (Vị ấy) không được thuyên giảm. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, ta cho phép hít khói. Các vị sau khi đốt cháy sợi bấc rồi hít khói vào. Cổ họng bị (lửa) đốt. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) ống dẫn khói. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư sử dụng các ống dẫn khói loại đặc biệt làm bằng vàng, làm bằng bạc. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - Giống như các kẻ tại gia hưởng dục vậy? Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, không nên sử dụng các ống dẫn khói loại đặc biệt; vị nào sử dụng thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Này các tỳ khưu, ta cho phép làm bằng xương, làm bằng ngà răng, làm bằng sừng, ...(như trên)..., làm bằng vỏ sò. Vào lúc bấy giờ, các ống dẫn khói không có nắp đậy, các sinh vật nhỏ đã đi vào. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) nắp đậy. Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu mang theo các ống dẫn khói bằng tay. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) túi đựng các ống dẫn khói. Chúng bị cọ xát với nhau. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) túi đôi. Dây mang vai không có. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) dây mang vai là chỉ thắt lại. [39] Vào lúc bấy giờ, đại đức Pilindavaccha bị bệnh gió. Các thầy thuốc đã nói như vầy: - Dầu cần được nấu. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. -Này các tỳ khưu, ta cho phép việc nấu dầu. Rượu mạnh cần được thêm vào trong dầu nấu ấy. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. -Này các tỳ khưu, ta cho phép thêm rượu mạnh vào trong dầu nấu. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư nấu các loại dầu được thêm vào quá nhiều rượu mạnh. Các vị uống các thứ ấy và bị say. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. -Này các tỳ khưu, không nên uống dầu được thêm vào quá nhiều rượu mạnh; vị nào uống thì nên được hành xử theo Pháp.[3] Này các tỳ khưu, trong loại dầu nấu nào (được thêm vào rượu mạnh) mà màu sắc, mùi, vị của rượu mạnh không nhận ra được, ta cho phép uống dầu được thêm vào rượu mạnh loại như thế. Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu có nhiều dầu nấu được thêm vào quá nhiều rượu mạnh. Khi ấy, các vị tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Nên thực hành như thế nào với các thứ dầu đã được thêm vào quá nhiều rượu mạnh?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. -Này các tỳ khưu, ta cho phép quy định làm thuốc thoa. Vào lúc bấy giờ, đại đức Pilindavaccha có nhiều dầu đã được nấu. Vị ấy không có đồ chứa. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. -Này các tỳ khưu, ta cho phép ba loại bình chứa: bình chứa bằng đồng, bình chứa bằng gỗ, bình chứa làm bằng trái cây. Vào lúc bấy giờ, đại đức Pilindavaccha bị phong thấp (aṅgavāta). Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. -Này các tỳ khưu, ta cho phép việc điều trị bằng hơi nóng. (Vị ấy) không được thuyên giảm. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) hơi nóng của nhiều loại lá cây. (Vị ấy) không được thuyên giảm. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) nhiều hơi nóng. (Vị ấy) không được thuyên giảm. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) nước nấu của nhiều loại lá cây. (Vị ấy) không được thuyên giảm. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) bể nước lớn (để ngâm mình). [40] Vào lúc bấy giờ, đại đức Pilindavaccha bị thấp khớp (pabbavāta). Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. -Này các tỳ khưu, ta cho phép trích máu. (Vị ấy) không được thuyên giảm. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, ta cho phép trích máu rồi lấy ra bằng ống sừng. [41] Vào lúc bấy giờ, các bàn chân của đại đức Pilindavaccha bị nứt nẻ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. -Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) thuốc bôi chân. (Vị ấy) không được thuyên giảm. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, ta cho phép áp dụng phương pháp phòng ngừa. [42] Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị mụt nhọt. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, ta cho phép việc mổ xẻ. Có nhu cầu về nước làm đông máu. - Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) nước làm đông máu. Có nhu cầu về thuốc cao làm từ mè. - Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) thuốc cao làm từ mè. Có nhu cầu về vải cầm máu. - Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) vải cầm máu. Có nhu cầu về vải băng vết thương. - Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) vải băng vết thương. Vết thương gây ngứa. - Này các tỳ khưu, ta cho phép rửa với bột mù-tạt (sāsapakuḍḍa). Vết thương bị làm mủ. - Này các tỳ khưu, ta cho phép thực hiện việc xông khói. Thịt ở vết thương bị lồi lên (như cây gai). - Này các tỳ khưu, ta cho phép cắt bằng mảnh sứ tẩm muối. Vết thương không liền lại. - Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) dầu xức vết thương. Dầu bị chảy. - Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) băng vải và tất cả các cách chữa trị vết thương. [43] Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị rắn cắn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, ta cho phép bố thí bốn loại vật dơ có tính quan trọng là: phân, nước tiểu, tro, và đất sét. Khi ấy, các vị tỳ khưu đã khởi ý điều này: “(Có thể sử dụng bốn vật này) khi chưa được thọ lãnh hay cần phải được thọ lãnh?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, ta cho phép thọ lãnh nếu có người làm cho đúng phép, nếu không có người làm cho đúng phép thì tự mình thu nhặt và thọ dụng . Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị uống nhằm thuốc độc. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, ta cho phép buộc (vị ấy) uống phân. Khi ấy, các vị tỳ khưu khởi ý điều này: “(Có thể sử dụng vật ấy) khi chưa được thọ lãnh hay cần phải được thọ lãnh?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, ta cho phép vị ấy thọ lãnh trong khi thực hiện vật ấy, khi vật ấy đã thọ lãnh và đã được thực hiện xong không cần phải thọ lãnh lại lần nữa. [44] Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh yểm bùa (gharadinnakābādho).[4] Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, ta cho phép buộc (vị ấy) uống nước bùn lấy từ đất ở lưỡi cày vừa mới cày đất lên. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh trĩ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, ta cho phép buộc (vị ấy) uống nước tro của cơm khô. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh vàng da. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, ta cho phép buộc (vị ấy) uống (hợp chất) nước tiểu và harīṭaka. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh ngoài da. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) mỡ có mùi thơm. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ có cơ thể bốc mùi hôi khủng khiếp. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, ta cho phép buộc (vị ấy) uống thuốc xổ. Có nhu cầu về nước cháo trắng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) nước cháo trắng. Có nhu cầu về nước xúp không có chất béo. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) nước xúp không có chất béo. Có nhu cầu về nước xúp đã thêm chút ít chất béo. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) nước xúp đã thêm chút ít chất béo. Có nhu cầu về mùi vị của thịt. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) mùi vị của thịt. [45] Vào lúc bấy giờ, đại đức Pilindavaccha có ý muốn làm chỗ trú ngụ nên cho người dọn sạch sẽ hang núi ở thành Rājagaha (Vương Xá). Khi ấy, đức vua Seniya Bimbisāra (Bình Sa Vương) xứ Magadha (Ma Kiệt Đà) đã đi đến gặp đại đức Pilindavaccha, sau khi đến đã đảnh lễ đại đức Pilindavaccha rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã nói với đại đức Pilindavaccha điều này: - Thưa ngài, ngài trưởng lão cho làm cái gì vậy? - Tâu đại vương, tôi có ý muốn làm chỗ trú ngụ nên cho người dọn sạch sẽ hang núi. - Thưa ngài, ngài có nhu cầu về người giúp việc tu viện (ārāmika) không? - Tâu đại vương, đức Thế Tôn chưa cho phép về người giúp việc tu viện. - Thưa ngài, chính vì việc đó ngài hãy hỏi đức Thế Tôn rồi báo cho trẫm biết. - Tâu đại vương, xin vâng. Đại đức Pilindavaccha đã đáp lời đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha. Khi ấy, đại đức Pilindavaccha đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha bằng bài Pháp thoại. Sau đó, khi đã được đại đức Pilindavaccha chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đại đức Pilindavaccha, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi. Sau đó, đại đức Pilindavaccha đã phái sứ giả đi đến gặp đức Thế Tôn (thưa rằng): - Bạch ngài, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha có ý muốn ban cho người giúp việc tu viện. Bạch ngài, vậy nên thực hành như thế nào? Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: - Này các tỳ khưu, ta cho phép người giúp việc tu viện. Đến lần thứ nhì, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã đi đến gặp đại đức Pilindavaccha, sau khi đến đã đảnh lễ đại đức Pilindavaccha rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã nói với đại đức Pilindavaccha điều này: - Thưa ngài, người giúp việc tu viện có được đức Thế Tôn cho phép không? - Tâu đại vương, đã được rồi. - Thưa ngài, như vậy thì trẫm ban cho ngài người giúp việc tu viện. Sau đó, khi đã hứa với đại đức Pilindavaccha về người giúp việc tu viện, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã không ghi nhớ. Một thời gian sau, khi đã phục hồi lại ký ức đức vua đã bảo viên quan đại thần nọ là vị tổng quản rằng: - Này khanh, người giúp việc tu viện đã được trẫm hứa với ngài đại đức, người giúp việc tu viện ấy đã được ban cho chưa? - Tâu bệ hạ, người giúp việc tu viện chưa được ban đến ngài đại đức. - Này khanh, tính đến đêm nay là đã bao lâu rồi vậy? Khi ấy, viên quan đại thần ấy sau khi tính đếm số lượng đêm rồi đã tâu với đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha điều này: - Tâu bệ hạ, năm trăm đêm. - Này khanh, như vậy thì hãy ban cho ngài đại đức năm trăm người giúp việc tu viện. - Tâu bệ hạ, xin vâng. Rồi vị quan đại thần ấy đã vâng lệnh đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha và dâng đến đại đức Pilindavaccha năm trăm người giúp việc tu viện. Một ngôi làng riêng biệt đã được thiết lập. Họ đã gọi ngôi làng ấy là “Ngôi làng của những người giúp việc tu viện.” Họ cũng đã gọi ngôi làng ấy là “Ngôi làng Pilindavaccha.” [46] Vào lúc bấy giờ, đại đức Pilindavaccha là vị thường hay lui tới trong ngôi làng ấy. Khi ấy vào buổi sáng, đại đức Pilindavaccha đã mặc y, cầm y bát, rồi đi vào ngôi làng Pilindavaccha để khất thực. Vào lúc bấy giờ, trong ngôi làng ấy có lễ hội. Những đứa trẻ nhỏ được trang điểm, đeo vòng hoa, và chơi đùa. Khi ấy, trong khi đi khất thực tuần tự từng nhà ở ngôi làng Pilindavaccha, đại đức Pilindavaccha đã đi đến căn nhà của người giúp việc tu viện nọ, sau khi đến đã ngồi xuống trên chỗ ngồi được sắp đặt sẵn. Vào lúc bấy giờ, đứa bé gái con của người đàn bà giúp việc tu viện ấy nhìn thấy những đứa trẻ con khác được trang điểm, đeo vòng hoa, nên đã oà khóc: - Cho con vòng hoa, cho con đồ trang sức. Khi ấy, đại đức Pilindavaccha đã nói với người đàn bà giúp việc tu viện ấy điều này: - Vì sao đứa bé gái này khóc vậy? - Thưa ngài, đứa bé gái này nhìn thấy những đứa trẻ con khác được trang điểm, đeo vòng hoa, nên đã oà khóc: “Cho con vòng hoa, cho con đồ trang sức.” Chúng tôi lâm cảnh khó khăn, lấy đâu ra vòng hoa, lấy đâu ra đồ trang sức? Khi ấy, đại đức Pilindavaccha đã nhặt lấy một nắm cỏ nọ rồi nói với người đàn bà giúp việc tu viện ấy điều này: - Vậy hãy đội nắm cỏ này lên đầu của đứa bé gái kia đi. Khi ấy, người đàn bà giúp việc tu viện ấy đã cầm lấy nắm cỏ ấy rồi đội lên đầu của đứa bé gái ấy. Vòng cỏ ấy đã trở thành vòng hoa bằng vàng, đẹp đẽ, xinh xắn, duyên dáng; ngay cả trong nội cung của đức vua cũng không có được vòng hoa bằng vàng như thế ấy. Dân chúng đã trình báo lên đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha rằng: - Tâu bệ hạ, trong nhà của người giúp việc tu viện kia có vòng hoa bằng vàng đẹp đẽ, xinh xắn, duyên dáng; ngay cả trong nội cung của bệ hạ cũng không có được vòng hoa bằng vàng như thế ấy. Đối với kẻ lâm cảnh khó khăn ấy thì lấy đâu ra? Chắc chắn là có được do trộm cắp. Khi ấy, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã cho lệnh bắt giữ gia đình của người giúp việc tu viện ấy. Đến lần thứ nhì, vào buổi sáng đại đức Pilindavaccha đã mặc y, cầm y bát, rồi đi vào ngôi làng Pilindavaccha để khất thực. Trong khi đi khất thực tuần tự từng nhà ở ngôi làng Pilindavaccha, đại đức Pilindavaccha đã đi đến căn nhà của người giúp việc tu viện nọ, sau khi đến đã hỏi những người hàng xóm rằng: - Gia đình của người giúp việc tu viện này đã đi đâu? - Thưa ngài, bọn họ đã bị đức vua ra lệnh bắt giữ vì nguyên nhân vòng hoa bằng vàng ấy. Sau đó, đại đức Pilindavaccha đã đi đến ngự viện của đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha, sau khi đến đã ngồi xuống trên chỗ ngồi được sắp đặt sẵn. Khi ấy, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã đi đến gặp đại đức Pilindavaccha, sau khi đến đã đảnh lễ đại đức Pilindavaccha rồi ngồi xuống ở một bên. Đại đức Pilindavaccha đã nói với đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đang ngồi một bên điều này: - Tâu đại vương, vì sao gia đình của người giúp việc tu viện lại bị ra lệnh bắt giữ? - Thưa ngài, trong nhà của người giúp việc tu viện ấy có vòng hoa bằng vàng đẹp đẽ, xinh xắn, duyên dáng; ngay cả trong nội cung của trẫm cũng không có được vòng hoa bằng vàng như thế ấy. Đối với kẻ lâm cảnh khó khăn ấy thì lấy đâu ra? Chắc chắn là có được do trộm cắp. Khi ấy, đại đức Pilindavaccha đã chú nguyện rằng: “Cung điện của đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha là vàng;” cung điện ấy đã trở thành hoàn toàn làm bằng vàng. - Tâu đại vương, do đâu đại vương lại có nhiều vàng đến thế này? - Thưa ngài, trẫm đã hiểu rồi. Chính việc ấy là năng lực thần thông của ngài đại đức. Rồi đức vua đã ra lệnh thả gia đình của người giúp việc tu viện ấy. [47] Dân chúng (đồn rằng): “Nghe nói ngài đại đức Pilindavaccha đã phô bày điều kỳ diệu của thần thông là pháp thượng nhân trước triều thần có cả đức vua nữa!” nên đã hoan hỷ, có niềm tin cao độ, rồi đã đem đến dâng đại đức Pilindavaccha năm loại dược phẩm như là bơ lỏng, bơ đặc, dầu ăn, mật ong, đường mía. Và đại đức Pilindavaccha trở thành người thường xuyên thọ lãnh năm loại dược phẩm và phân phát cho hội chúng mỗi khi được thọ lãnh. Rồi tiếp tục được thọ lãnh và hội chúng của vị ấy trở nên dư dã. Sau khi chứa đầy các hũ và các chum, các vị xếp chúng một bên; sau khi chứa đầy các túi lọc nước và các túi xách, các vị treo lên ở các cửa sổ. Các loại dược phẩm ấy đã bị rỉ xuống chảy ra và vẫn ở nguyên chỗ. Các trú xá đã có các con chuột xuất hiện rải rác rồi tràn ngập. Dân chúng trong khi đi dạo quanh các trú xá nhìn thấy nên phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - Các sa-môn Thích tử này là những người tích trữ đồ đạc trong nhà giống như là đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha vậy. Các tỳ khưu đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu ít ham muốn, ...(như trên)..., các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - Vì sao các tỳ khưu lại chấp nhận sự thặng dư như thế này? Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu chấp nhận sự thặng dư như thế ấy, có đúng không vậy? - Bạch Thế Tôn, đúng vậy. ...(như trên)... Sau khi khiển trách, ngài đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: - Này các tỳ khưu, các loại dược phẩm thích hợp cho các tỳ khưu bị bệnh như là bơ lỏng, bơ đặc, dầu ăn, mật ong, đường mía, sau khi thọ lãnh chúng rồi nên được thọ dụng và thời hạn tối đa bảy ngày là thời hạn tích trữ; nếu vượt quá thời hạn ấy thì nên được hành xử theo Pháp.[5] Tụng phẩm “Dược Phẩm Được Cho Phép” là phần thứ nhất. [48] Sau đó, khi đã ngự tại thành Sāvatthi theo như ý thích, đức Thế Tôn đã ra đi du hành về phía thành Rājagaha. Trên đường đi, đại đức Kaṅkhārevata[6] đã nhìn thấy lò nấu đường nên đã bước sang một bên. Sau khi nhìn thấy (những người thợ) bỏ bột mì và tro vào trong mật đường, vị ấy (nghĩ rằng): “Mật đường trộn với vật thực là không được phép, (vì thế) đường không được thọ dụng lúc phi thời” nên ngần ngại rồi cùng với tập thể không thọ dụng đường. Thậm chí nhiều vị nghĩ rằng nên nghe theo vị ấy rồi cũng không thọ dụng đường. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, vì mục đích gì mà họ bỏ bột mì và tro vào trong mật đường vậy? - Bạch Thế Tôn, vì mục đích kết tinh. - Này các tỳ khưu, nếu vì mục đích kết tinh mà họ bỏ bột mì và tro vào trong mật đường, (hỗn hợp) ấy kết thành khối vẫn gọi là “Đường” vậy. Này các tỳ khưu, ta cho phép thọ dụng đường một cách thoải mái. Trên đường đi, đại đức Kaṅkhārevata đã nhìn thấy cây đậu tây (mugga)[7] sinh trưởng ở bãi phân. Sau khi nhìn thấy, vị ấy (nghĩ rằng): “Các hạt đậu tây là không được phép, mặc dầu đã được nấu chín các hạt đậu tây vẫn sinh trưởng” nên ngần ngại rồi cùng với tập thể không thọ dụng đậu tây. Thậm chí nhiều vị nghĩ rằng nên nghe theo vị ấy rồi cũng không thọ dụng đậu tây. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, mặc dù đã được nấu chín đậu tây vẫn sinh trưởng. Này các tỳ khưu, ta cho phép thọ dụng đậu tây một cách thoải mái. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh đau bụng bão (udaravātābādha). Vị ấy đã húp cháo chua có bỏ muối. Bệnh đau bụng bão ấy của vị ấy đã được thuyên giảm. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, ta cho phép thọ dụng cháo chua có bỏ muối một cách thoải mái đối với vị bị bệnh, đối với vị không bệnh (ta cho phép thọ dụng cháo chua có bỏ muối) đã được pha trộn với nước như là thức uống. [49] Sau đó, trong khi tuần tự du hành đức Thế Tôn đã ngự đến thành Rājagaha. Tại nơi đó trong thành Rājagaha, đức Thế Tôn ngự tại Veḷuvana (Trúc Lâm), nơi nuôi dưỡng các con sóc. Vào lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bị bệnh đau bụng bão. Khi ấy, đại đức Ānanda (nghĩ rằng): “Trước đây, bệnh đau bụng bão của đức Thế Tôn được dịu đi nhờ cháo gồm có ba thứ” nên đã đích thân đi xin mè, gạo lức, và đậu tây rồi chuẩn bị ở trong khuôn viên (anto),[8] đích thân nấu ở trong khuôn viên, và đã đem đến dâng lên đức Thế Tôn: - Xin Thế Tôn hãy húp cháo gồm có ba thứ. Các đấng Như Lai dầu biết vẫn hỏi, dầu biết các vị vẫn không hỏi, biết đúng thời các vị mới hỏi, biết đúng thời các vị vẫn không hỏi, có liên quan đến lợi ích các đấng Như lai mới hỏi và không (hỏi việc) không có liên quan đến lợi ích, khi không có liên quan đến lợi ích các đấng Như Lai có cách để cắt đứt vấn đề. Chư Phật Thế Tôn hỏi các vị tỳ khưu vì hai lý do: “Hoặc là chúng ta sẽ thuyết Pháp hoặc là chúng ta sẽ quy định điều học cho các đệ tử.” Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo đại đức Ānanda rằng: - Này Ānanda, cháo này từ đâu vậy? Khi ấy, đại đức Ānanda đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: - Này Ānanda, thật không đúng đắn, không hợp lẽ, không tốt đẹp, không xứng pháp sa-môn, không được phép, không nên làm. Này Ānanda, vì sao ngươi lại nghĩ đến việc đa đoan như thế này? Này Ānanda, vật đã được chuẩn bị ở trong khuôn viên là không được phép, vật đã được nấu ở trong khuôn viên là không được phép, vật đã được tự mình nấu là không được phép. Này Ānanda, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ...(như trên)... Sau khi khiển trách, ngài đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: - Này các tỳ khưu, không nên thọ dụng (vật) đã được chuẩn bị ở trong khuôn viên, đã được nấu ở trong khuôn viên, đã được tự mình nấu; vị nào thọ dụng thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Này các tỳ khưu, nếu vị ấy thọ dụng vật đã được chuẩn bị ở trong khuôn viên, đã được nấu ở trong khuôn viên, đã được tự mình nấu thì phạm ba tội dukkaṭa (tác ác). Này các tỳ khưu, nếu vị ấy thọ dụng vật đã được chuẩn bị ở trong khuôn viên, đã được nấu ở trong khuôn viên, đã được những người khác nấu thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác). Này các tỳ khưu, nếu vị ấy thọ dụng vật đã được chuẩn bị ở trong khuôn viên, đã được nấu ở ngoài khuôn viên (bahi),[9] đã được tự mình nấu thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác). Này các tỳ khưu, nếu vị ấy thọ dụng vật đã được chuẩn bị ở ngoài khuôn viên, đã được nấu ở trong khuôn viên, đã được tự mình nấu thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác). Này các tỳ khưu, nếu vị ấy thọ dụng vật đã được chuẩn bị ở trong khuôn viên, đã được nấu ở ngoài khuôn viên, đã được những người khác nấu thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Này các tỳ khưu, nếu vị ấy thọ dụng vật đã được chuẩn bị ở ngoài khuôn viên, đã được nấu ở trong khuôn viên, đã được những người khác nấu thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Này các tỳ khưu, nếu vị ấy thọ dụng vật đã được chuẩn bị ở ngoài khuôn viên, đã được nấu ở ngoài khuôn viên, đã được tự mình nấu thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Này các tỳ khưu, nếu vị ấy thọ dụng vật đã được chuẩn bị ở ngoài khuôn viên, đã được nấu ở ngoài khuôn viên, đã được những người khác nấu thì vô tội. [50] Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu (nghĩ rằng): “Việc tự mình nấu đã được đức Thế Tôn cấm đoán” nên đã ngần ngại trong việc nấu lại lần nữa (hâm nóng thức ăn). Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, ta cho phép nấu (lại) vật đã được nấu. [51] Vào lúc bấy giờ, thành Rājagaha bị khó khăn về vật thực. Dân chúng đã đem đến tu viện muối, dầu ăn, gạo lức, và vật thực cứng. Các vị tỳ khưu đã chuẩn bị các thức ấy ở ngoài khuôn viên và các con thú hoang ăn đi, những kẻ trộm lấy đi. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, ta cho phép chuẩn bị ở trong khuôn viên. Sau khi chuẩn bị ở trong khuôn viên, các vị nấu ở ngoài khuôn viên. Những người chuyên ăn vật thực thừa vây quanh. Các vị tỳ khưu thọ dụng không được thoải mái. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, ta cho phép nấu ở trong khuôn viên. Trong thời gian khó khăn về vật thực, những người làm các vật trở thành đúng phép (cho các vị tỳ khưu sử dụng) đã mang đi nhiều nhưng dâng cho các vị tỳ khưu ít hơn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, ta cho phép tự mình nấu. Này các tỳ khưu, ta cho phép (vật) đã được chuẩn bị ở trong khuôn viên, đã được nấu ở trong khuôn viên, đã được tự mình nấu.[10] [52] Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị tỳ khưu khi đã trải mùa (an cư) mưa ở xứ Kāsī đang đi đến thành Rājagaha để diện kiến đức Thế Tôn. Trên đường đi, các vị đã không đạt được sự đầy đủ về vật thực dầu tầm thường hay hảo hạng theo như nhu cầu và có nhiều vật ăn được là trái cây nhưng lại không có người làm (các trái cây ấy) trở thành đúng phép. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy với vóc dáng mệt mỏi đã đi đến thành Rājagaha, Veḷuvana (Trúc Lâm), nơi nuôi dưỡng các con sóc, gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Điều này đã trở thành thông lệ đối với chư Phật Thế Tôn là niềm nở đối với các tỳ khưu đi đến. Khi ấy, đức Thế Tôn đã nói với các vị tỳ khưu ấy điều này: - Này các tỷ-kheo, sức khoẻ có khá không? Mọi việc có được tốt đẹp không? Các ngươi đi đến đường xa có được ít mệt nhọc không? Và này các tỳ khưu, các ngươi từ đâu đến vậy? - Bạch Thế Tôn, sức khoẻ khá. Bạch Thế Tôn, mọi việc đều tốt đẹp. Bạch ngài, trường hợp chúng con khi đã trải mùa (an cư) mưa ở xứ Kāsī và đang đi đến Rājagaha để diện kiến đức Thế Tôn. Trên đường đi, chúng con đã không đạt được sự đầy đủ về vật thực dầu tầm thường hay hảo hạng theo như nhu cầu và có nhiều vật ăn được là trái cây nhưng lại không có người làm (các trái cây ấy) trở thành đúng phép; vì thế, chúng con đã đi đến đường xa đến với vóc dáng mệt mỏi. Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: - Này các tỳ khưu, ta cho phép ở nơi nào thấy trái cây có thể ăn được và không có người làm (trái cây) trở thành đúng phép thì tự mình nhặt lấy, mang đi, đến khi gặp được người làm (trái cây) trở thành đúng phép thì đặt (trái cây) trên mặt đất, bảo (người ấy) trao lại, rồi thọ dụng. Này các tỳ khưu, ta cho phép thọ lãnh (trái cây) đã được nhặt lên. [53] Vào lúc bấy giờ, có người bà-la-môn nọ thâu hoạch mè mới và mật đường mới. Khi ấy, người bà-la-môn ấy đã khởi ý điều này: “Hay là ta nên dâng mè mới và mật đường mới đến hội chúng có đức Phật đứng đầu?” Sau đó, người bà-la-môn ấy đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã tỏ vẻ thân thiện với đức Thế Tôn, sau khi trao đổi lời xã giao thân thiện rồi đã đứng ở một bên. Khi đã đứng một bên, người bà-la-môn ấy đã nói với đức Thế Tôn điều này: - Bạch ngài, xin ngài Gotama hãy nhận lời tôi về bữa trai phạn vào ngày mai cùng với hội chúng tỳ khưu. Đức Thế Tôn đã nhận lời bằng thái độ im lặng. Khi ấy, người bà-la-môn ấy hiểu được sự nhận lời của đức Thế Tôn nên đã ra đi. Sau đó, khi trải qua đêm ấy người bà-la-môn ấy đã cho chuẩn bị sẵn sàng thức ăn thượng hạng loại cứng loại mềm rồi cho người thông báo thời giờ đến đức Thế Tôn: - Bạch ngài Gotama, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong. Khi ấy vào buổi sáng, đức Thế Tôn đã mặc y, cầm y bát, rồi đi đến tư gia của người bà-la-môn ấy, sau khi đến đã ngồi xuống trên chỗ ngồi được sắp đặt sẵn cùng với hội chúng tỳ khưu. Sau đó, người bà-la-môn ấy đã tự tay làm hài lòng và thỏa mãn hội chúng tỳ khưu có đức Phật đứng đầu với thức ăn thượng hạng cứng mềm. Đến khi đức Thế Tôn đã thọ thực xong bàn tay đã rời khỏi bình bát, người bà-la-môn ấy đã ngồi xuống ở một bên. Đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho người bà-la-môn ấy đang ngồi một bên bằng bài Pháp thoại rồi đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Sau đó, khi đức Thế Tôn ra đi không lâu, người bà-la-môn ấy đã khởi ý điều này: “Hội chúng tỳ khưu có đức Phật đứng đầu đã được ta thỉnh mời vì mục đích của những thứ này: ‘Ta sẽ dâng mè mới và mật đường mới,’ nhưng ta đã quên dâng chúng rồi. Hay là ta sẽ cho người mang mè mới và mật đường mới bằng các vại và hũ đến tu viện vậy?” Sau đó, người bà-la-môn ấy đã cho người mang mè mới và mật đường mới bằng các vại và hũ đến tu viện rồi đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đứng ở một bên. Khi đã đứng một bên, người bà-la-môn ấy đã nói với đức Thế Tôn điều này: - Bạch ngài Gotama, hội chúng tỳ khưu có đức Phật đứng đầu đã được tôi thỉnh mời vì mục đích của những thứ này: ‘Ta sẽ dâng mè mới và mật đường mới,’ nhưng tôi đã quên dâng chúng rồi. Bạch ngài Gotama, xin hãy thọ lãnh mè mới và mật đường mới của tôi. - Này bà-la-môn, như vậy thì ngươi hãy dâng đến các vị tỳ khưu đi. Vào lúc bấy giờ, trong thời kỳ khó khăn về vật thực các vị tỳ khưu chỉ được thỉnh cầu những khẩu phần ít ỏi nên có sự suy nghĩ rồi từ chối. Và toàn bộ hội chúng đã được thỉnh cầu, nhưng các vị tỳ khưu ngần ngại nên không thọ lãnh. - Này các tỳ khưu, hãy thọ lãnh và hãy thọ dụng. Này các tỳ khưu, ta cho phép vị đã ăn xong khi được yêu cầu thì được thọ dụng vật không phải còn thừa và đã được đem lại từ chỗ đã ăn xong. [54] Vào lúc bấy giờ, gia đình hộ độ của tỳ khưu Upananda con trai dòng Sākya đã cho người đem lại vật thực loại cứng nhằm dâng đến hội chúng (dặn dò) rằng: “Nên trình cho ngài đại đức Upananda thấy rồi mới dâng đến hội chúng.” Vào lúc bấy giờ, đại đức Upananda con trai dòng Sākya đã đi vào làng để khất thực. Khi ấy, những người ấy sau khi đi đến tu viện đã hỏi các vị tỳ khưu rằng: - Thưa các ngài, ngài đại đức Upananda ở đâu vậy? - Này các đạo hữu, đại đức Upananda con trai dòng Sākya này đã đi vào làng để khất thực. - Thưa các ngài, vật thực loại cứng này nên được trình cho ngài đại đức Upananda thấy rồi mới dâng đến hội chúng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, như vậy thì sau khi thọ lãnh các ngươi hãy để riêng ra đến khi Upananda trở về. Khi ấy, đại đức Upananda con trai dòng Sākya trước bữa ăn đã đi giao thiệp với các gia đình rồi về lại trong ngày. Vào lúc bấy giờ, trong thời kỳ khó khăn về vật thực các vị tỳ khưu chỉ được thỉnh cầu những khẩu phần ít ỏi nên có sự suy nghĩ rồi từ chối. Và toàn bộ hội chúng đã được thỉnh cầu, nhưng các vị tỳ khưu ngần ngại nên không thọ lãnh. - Này các tỳ khưu, hãy thọ lãnh và hãy thọ dụng. Này các tỳ khưu, ta cho phép vị đã ăn xong khi được yêu cầu thì được thọ dụng vật không phải còn thừa đã được thọ lãnh trước bữa ăn. [55] Sau đó, khi đã ngự tại thành Rājagaha theo như ý thích, đức Thế Tôn đã ra đi du hành về phía thành Sāvatthi. Trong khi tuần tự du hành, ngài đã ngự đến thành Sāvatthi. Tại nơi đó ở Sāvatthi, đức Thế Tôn ngự tại Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, đại đức Sāriputta (Xá Lợi Phất) bị bệnh sốt toàn thân. Khi ấy, đại đức Mahāmoggallāna (Mục Kiền Liên) đã đi đến gặp đại đức Sāriputta, sau khi đến đã nói với đại đức Sāriputta điều này: - Này đại đức Sāriputta, trước đây bịnh sốt toàn thân của đại đức được dịu đi nhờ vào thứ gì? - Này đại đức, tôi nhờ vào các cọng súng và cọng sen. Sau đó, giống như người đàn ông có sức mạnh có thể duỗi ra cánh tay đã được co lại hoặc có thể co lại cánh tay đã được duỗi ra, tương tợ như thế đại đức Mahāmoggallāna đã biến mất tại Jetavana rồi hiện ra ở bờ hồ sen Mandākinī. Có con long tượng nọ đã nhìn thấy đại đức Mahāmoggallāna từ đàng xa đang đi lại, sau khi nhìn thấy đã nói với đại đức Mahāmoggallāna điều này: - Thưa ngài, xin ngài đại đức Mahāmoggallāna hãy đến. Thưa ngài, xin hoan nghênh ngài đại đức Mahāmoggallāna. Thưa ngài, ngài đại đức có nhu cầu gì? Tôi có thể dâng vật gì? - Này đạo hữu, ta có nhu cầu về các cọng súng và cọng sen. Khi ấy, con long tượng ấy đã ra lệnh cho con long tượng khác. - Này bạn, như vậy bạn hãy dâng đến ngài đại đức các cọng súng và cọng sen theo như nhu cầu. Sau đó, con long tượng ấy đã lội xuống hồ sen Mandākinī dùng vòi nhổ các cọng súng và cọng sen rồi rửa sạch sẽ, sau khi rửa xong đã buộc lại thành bó rồi đi đến gặp đại đức Mahāmoggallāna. Khi ấy, giống như người đàn ông có sức mạnh có thể duỗi ra cánh tay đã được co lại hoặc có thể co lại cánh tay đã được duỗi ra, tương tợ như thế đại đức Mahāmoggallāna đã biến mất tại bờ hồ sen Mandākinī rồi hiện ra ở Jetavana. Con long tượng ấy cũng đã biến mất tại bờ hồ sen Mandākinī và hiện ra ở Jetavana. Khi ấy, con long tượng ấy sau khi đã dâng đến đại đức Mahāmoggallāna các cọng súng và cọng sen rồi đã biến mất tại Jetavana và hiện ra ở bờ hồ sen Mandākinī. Sau đó, đại đức Mahāmoggallāna đã đem lại các cọng súng và cọng sen cho đại đức Sāriputta. Khi ấy, đại đức Sāriputta đã thọ dụng các cọng súng và cọng sen, bệnh sốt toàn thân đã được thuyên giảm. Nhiều cọng súng và cọng sen còn thừa lại. Vào lúc bấy giờ, trong thời kỳ khó khăn về vật thực các vị tỳ khưu chỉ được thỉnh cầu những khẩu phần ít ỏi nên có sự suy nghĩ rồi từ chối. Và toàn bộ hội chúng đã được thỉnh cầu, nhưng các vị tỳ khưu ngần ngại nên không thọ lãnh. - Này các tỳ khưu, hãy thọ lãnh và hãy thọ dụng. Này các tỳ khưu, ta cho phép vị đã ăn xong khi được yêu cầu thì được thọ dụng vật không phải còn thừa đã được mọc ở rừng (hoặc) đã được mọc ở hồ nước. [56] Vào lúc bấy giờ, ở thành Sāvatthi có vô số trái cây có thể ăn được nhưng lại không có người làm (các trái cây ấy) trở thành đúng phép. Các vị tỳ khưu ngần ngại nên không thọ dụng trái cây. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, ta cho phép thọ dụng trái cây không có hột, hoặc không còn hột, (cho dù) chưa được làm trở thành đúng phép. [57] Sau đó, khi đã ngự tại thành Sāvatthi theo như ý thích, đức Thế Tôn đã ra đi du hành về phía thành Rājagaha. Trong khi tuần tự du hành, ngài đã ngự đến thành Rājagaha. Tại nơi đó trong thành Rājagaha, đức Thế Tôn ngự tại Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh lở loét. Thầy thuốc Ākāsagotta đã thực hiện việc mổ xẻ. Sau đó, đức Thế Tôn trong khi đi dạo quanh các chỗ trú ngụ đã đi đến trú xá của vị tỳ khưu nọ. Thầy thuốc Ākāsagotta đã nhìn thấy đức Thế Tôn từ đàng xa đang đi lại, sau khi nhìn thấy đã nói với đức Thế Tôn điều này: - Bạch ngài Gotama, xin hãy lại đây. Xin hãy nhìn xem hậu môn của vị tỳ khưu này, giống như là miệng của con kỳ nhông vậy. Khi ấy, đức Thế Tôn (nghĩ rằng): “Kẻ rồ dại này (muốn) đùa cợt ta!” rồi đã từ nơi ấy quay trở về và nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và hỏi các tỳ khưu rằng: - Này các tỳ khưu, có phải trong trú xá ở đàng kia có vị tỳ khưu bị bệnh? - Bạch Thế Tôn, thưa có. - Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy bị bệnh gì? - Bạch ngài, đại đức ấy bị bệnh lở loét. Thầy thuốc Ākāsagotta đã thực hiện việc mổ xẻ. Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: - Này các tỳ khưu, thật không đúng đắn cho kẻ rồ dại ấy, thật không hợp lẽ, không tốt đẹp, không xứng pháp sa-môn, không được phép, không nên làm. Này các tỳ khưu, vì sao kẻ rồ dại ấy lại cho người thực hiện việc mổ xẻ ở chỗ kín (của cơ thể)? Này các tỳ khưu, da ở chỗ kín (của cơ thể) thì mỏng, vết thương khó liền da, dao khó điều khiển. Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ...(như trên)... Sau khi khiển trách, ngài đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: - Này các tỳ khưu, không nên cho người thực hiện việc mổ xẻ ở chỗ kín (của cơ thể); vị nào cho người thực hiện thì phạm tội thullaccaya (trọng tội). Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn đã cấm đoán việc mổ xẻ” nên đã cho người thực hiện việc bơm thụt. Các tỳ khưu ít ham muốn, ...(như trên)..., các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - Vì sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư lại cho người thực hiện việc bơm thụt? Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu nhóm Lục Sư cho người thực hiện việc bơm thụt, có đúng không vậy? - Bạch Thế Tôn, đúng vậy. ...(như trên)... Sau khi khiển trách, ngài đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: - Này các tỳ khưu, không nên cho người thực hiện việc mổ xẻ hoặc việc bơm thụt xung quanh chỗ kín (của cơ thể) hai lóng tay; vị nào cho người thực hiện thì phạm tội thullaccaya (trọng tội). [58] Sau đó, khi đã ngự tại thành Rājagaha theo như ý thích, đức Thế Tôn đã ra đi du hành về phía thành Bārāṇasī (Ba La Nại). Trong khi tuần tự du hành, ngài đã ngự đến thành Bārāṇasī. Tại nơi đó trong thành Bārāṇasī, đức Thế Tôn ngự tại Isipatana, ở vườn nai. Vào lúc bấy giờ, trong thành Bārāṇasī có nam cư sĩ Suppiya và nữ cư sĩ Suppiyā. Cả hai đều ngưỡng mộ, là thí chủ, là người phục vụ, là người hộ độ cho hội chúng. Khi ấy, nữ cư sĩ Suppiyā đi đến tu viện rồi đi từ trú xá này đến trú xá khác, từ phòng này đến phòng khác và hỏi các vị tỳ khưu rằng: - Thưa các ngài, vị nào bị bệnh? Vật gì cần được mang lại? Cho vị nào? Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã uống thuốc xổ. Khi ấy, vị tỳ khưu ấy đã nói với nữ cư sĩ Suppiyā điều này: - Này chị gái, tôi đã uống thuốc xổ. Tôi có nhu cầu về mùi vị của thịt. - Thưa ngài, tốt lắm. (Vật ấy) sẽ được mang lại. Sau khi về nhà, nữ cư sĩ Suppiyā đã bảo người giúp việc rằng: - Này chú em, hãy đi và tìm (mua) loại thịt đã được làm sẵn (pavattamaṃsaṃ). - Thưa cô chủ, xin vâng. Rồi người đàn ông ấy nghe theo nữ cư sĩ Suppiyā đã đi rảo khắp cả thành Bārāṇasī nhưng vẫn không thấy loại thịt đã được làm sẵn. Sau đó, người đàn ông ấy đã đi đến gặp nữ cư sĩ Suppiyā, sau khi đến đã nói với nữ cư sĩ Suppiyā điều này: - Thưa cô chủ, không có thịt đã được làm sẵn. Hôm nay là ngày kiêng sát sanh. Khi ấy, nữ cư sĩ Suppiyā đã khởi ý điều này: “Vị tỳ khưu bị bệnh ấy mà không có được mùi vị của thịt thì bệnh sẽ trầm trọng hơn hoặc sẽ chết. Đối với ta, việc ta đã hứa mà không cho người đem lại là việc không đúng đắn” nên đã lấy con dao găm cắt miếng thịt ở đùi rồi trao cho người tớ gái (nói rằng): - Này em, hãy chuẩn bị miếng thịt này rồi dâng đến vị tỳ khưu bị bệnh ấy ở trong trú xá kia. Và ai hỏi ta thì hãy báo cho biết là: “Cô chủ bị bệnh.” Rồi nàng đã lấy thượng y quấn quanh đùi, đi vào phòng trong, và nằm xuống trên giường. Sau đó, nam cư sĩ Suppiya đã trở về nhà và hỏi người tớ gái rằng: - Suppiyā đâu rồi? - Thưa ông chủ, bà nằm ở phòng trong. Khi ấy, nam cư sĩ Suppiya đã đi đến gặp nữ cư sĩ Suppiyā, sau khi đến đã nói với nữ cư sĩ Suppiyā điều này: - Vì sao nàng lại nằm vậy? - Thiếp bị bệnh. - Nàng bị bệnh gì vậy? Sau đó, nữ cư sĩ Suppiyā đã kể lại sự việc ấy cho nam cư sĩ Suppiya. Khi ấy, nam cư sĩ Suppiya (nghĩ rằng): “Thật kỳ diệu thay! Thật phi thường thay! Nàng Suppiyā đã được an trú vào niềm tin đến thế. Bởi vì ngay cả thịt của chính bản thân còn được dứt bỏ thì còn có gì khác nữa mà nàng không thể bố thí?” nên mừng rỡ, phấn chấn đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, nam cư sĩ Suppiya đã nói với đức Thế Tôn điều này: - Bạch ngài, xin đức Thế Tôn nhận lời bữa trai phạn của con vào ngày mai cùng với hội chúng tỳ khưu. Đức Thế tôn đã nhận lời bằng thái độ im lặng. Khi ấy, nam cư sĩ Suppiya hiểu được sự nhận lời của đức Thế Tôn nên đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, và ra đi. Sau đó, khi trải qua đêm ấy nam cư sĩ Suppiya đã cho chuẩn bị sẵn sàng thức ăn thượng hạng loại cứng loại mềm rồi cho người thông báo thời giờ đến đức Thế Tôn: - Bạch ngài, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong. Khi ấy vào buổi sáng, đức Thế Tôn đã mặc y, cầm y bát, rồi đi đến tư gia của nam cư sĩ Suppiya, sau khi đến đã ngồi xuống trên chỗ ngồi được sắp đặt sẵn cùng với hội chúng tỳ khưu. Sau đó, nam cư sĩ Suppiya đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng ở một bên. Đức Thế Tôn đã nói với nam cư sĩ Suppiya đang đứng một bên điều này: - Suppiyā đâu rồi? - Bạch Thế Tôn, nàng bị bệnh. - Như vậy thì (nàng) hãy đi đến đây. - Bạch Thế Tôn, nàng không đủ sức. - Như vậy thì hãy ẵm rồi đưa (nàng) lại đây. Sau đó, nam cư sĩ Suppiya đã ẵm và đưa nữ cư sĩ Suppiyā lại. Khi đức Thế Tôn nhìn thấy nàng, ngay khi ấy vết thương lớn như thế đã được liền lại, có làn da đẹp, và lông tơ đã mọc. Khi ấy, nam cư sĩ Suppiya và nữ cư sĩ Suppiyā (nghĩ rằng): “Thật kỳ diệu thay! Thật phi thường thay! Đức Như Lai có đại thần lực, có đại oai lực! Bởi vì ở đây chỉ với ánh nhìn của đức Thế Tôn, vết thương lớn như thế đã được liền lại, có làn da đẹp, và lông tơ đã mọc” nên mừng rỡ phấn chấn rồi đã tự tay làm hài lòng và thỏa mãn hội chúng tỳ khưu có đức Phật đứng đầu với thức ăn thượng hạng loại cứng loại mềm. Đến khi đức Thế Tôn đã thọ thực xong bàn tay đã rời khỏi bình bát, họ đã ngồi xuống ở một bên. Khi ấy, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho nam cư sĩ Suppiya và nữ cư sĩ Suppiyā bằng bài Pháp thoại rồi đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. [59] Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và hỏi các tỳ khưu rằng: - Này các tỳ khưu, vị nào đã yêu cầu nữ cư sĩ Suppiyā về thịt? Khi được nói như thế, vị tỳ khưu ấy đã nói với đức Thế Tôn điều này: - Bạch ngài, chính con đã yêu cầu nữ cư sĩ Suppiyā về thịt. - Này tỳ khưu, có phải (thịt) đã được đem đến đây? - Bạch Thế Tôn, (thịt) đã được đem đến đây. - Này tỳ khưu, có phải ngươi đã thọ dụng? - Bạch Thế Tôn, con đã thọ dụng. - Này tỳ khưu, ngươi có quán xét (là thịt gì) hay không? - Bạch Thế Tôn, con đã không quán xét (là thịt gì). Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: - Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi chưa quán xét mà lại thọ dụng thịt? Này kẻ rồ dại, ngươi đã thọ dụng thịt người. Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ...(như trên)... Sau khi khiển trách, ngài đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: - Này các tỳ khưu, có những người có niềm tin đã được an trú, ngay thịt của chính bản thân còn được những người này dứt bỏ. Này các tỳ khưu, không nên thọ dụng thịt người; vị nào thọ dụng thì phạm tội thullaccaya (trọng tội). Này các tỳ khưu, không nên thọ dụng thịt khi chưa quán xét; vị nào thọ dụng thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). [60] Vào lúc bấy giờ, các con voi của đức vua bị chết. Trong thời kỳ khó khăn về vật thực nên dân chúng ăn thịt voi và bố thí thịt voi đến các tỳ khưu đang đi khất thực. Các vị tỳ khưu thọ dụng thịt voi. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - Tại sao các sa-môn Thích tử lại thọ dụng thịt voi? Các con voi là vật biểu tượng của hoàng gia, nếu đức vua biết ngài sẽ không hoan hỷ với các vị nữa đâu. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, không nên thọ dụng thịt voi; vị nào thọ dụng thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Vào lúc bấy giờ, các con ngựa của đức vua bị chết. Trong thời kỳ khó khăn về vật thực nên dân chúng ăn thịt ngựa và bố thí thịt ngựa đến các tỳ khưu đang đi khất thực. Các vị tỳ khưu thọ dụng thịt ngựa. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - Tại sao các sa-môn Thích tử lại thọ dụng thịt ngựa? Các con ngựa là vật biểu tượng của hoàng gia, nếu đức vua biết ngài sẽ không hoan hỷ với các vị nữa đâu. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, không nên thọ dụng thịt ngựa; vị nào thọ dụng thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Vào lúc bấy giờ, trong thời kỳ khó khăn về vật thực dân chúng ăn thịt chó và bố thí thịt chó đến các tỳ khưu đang đi khất thực. Các vị tỳ khưu thọ dụng thịt chó. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - Tại sao các sa-môn Thích tử lại thọ dụng thịt chó? Loài chó thì ghê tởm và đáng ghét. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, không nên thọ dụng thịt chó; vị nào thọ dụng thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Vào lúc bấy giờ, trong thời kỳ khó khăn về vật thực dân chúng ăn thịt rắn và bố thí thịt rắn đến các tỳ khưu đang đi khất thực. Các vị tỳ khưu thọ dụng thịt rắn. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - Tại sao các sa-môn Thích tử lại thọ dụng thịt rắn? Loài rắn thì ghê tởm và đáng ghét. Vua của loài rắn là Supassa đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng ở một bên. Khi đã đứng một bên, Supassa vua của loài rắn đã nói với đức Thế Tôn điều này: - Bạch ngài, có những loài rắn không có đức tin, không có ngưỡng mộ, chúng có thể hãm hại các vị tỳ khưu dầu là việc không đáng. Bạch ngài, thật tốt đẹp thay các ngài đại đức chớ nên thọ dụng thịt rắn. Khi ấy, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho Supassa vua của loài rắn bằng bài Pháp thoại. Sau đó, khi đã được đức Thế tôn chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại, Supassa vua của loài rắn đã đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi. Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: - Này các tỳ khưu, không nên thọ dụng thịt rắn; vị nào thọ dụng thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Vào lúc bấy giờ, những người thợ săn giết chết con sư tử rồi ăn thịt sư tử và bố thí thịt sư tử đến các tỳ khưu đang đi khất thực. Các vị tỳ khưu sau khi thọ dụng thịt sư tử rồi vào ngụ ở trong rừng. Những con sư tử (nhận biết được) mùi thịt sư tử nên đã vồ lấy các vị tỳ khưu. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, không nên thọ dụng thịt sư tử; vị nào thọ dụng thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Vào lúc bấy giờ, những người thợ săn giết chết con hổ rồi ăn thịt hổ và bố thí thịt hổ đến các tỳ khưu đang đi khất thực. Các vị tỳ khưu sau khi thọ dụng thịt hổ rồi vào ngụ ở trong rừng. Những con hổ (nhận biết được) mùi thịt hổ nên đã vồ lấy các vị tỳ khưu. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, không nên thọ dụng thịt hổ; vị nào thọ dụng thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Vào lúc bấy giờ, những người thợ săn giết chết con beo rồi ăn thịt beo và bố thí thịt beo đến các tỳ khưu đang đi khất thực. Các vị tỳ khưu sau khi thọ dụng thịt beo rồi vào ngụ ở trong rừng. Những con beo (nhận biết được) mùi thịt beo nên đã vồ lấy các vị tỳ khưu. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, không nên thọ dụng thịt beo; vị nào thọ dụng thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Vào lúc bấy giờ, những người thợ săn giết chết con gấu rồi ăn thịt gấu và bố thí thịt gấu đến các tỳ khưu đang đi khất thực. Các vị tỳ khưu sau khi thọ dụng thịt gấu rồi vào ngụ ở trong rừng. Những con gấu (nhận biết được) mùi thịt gấu nên đã vồ lấy các vị tỳ khưu. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, không nên thọ dụng thịt gấu; vị nào thọ dụng thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Vào lúc bấy giờ, những người thợ săn giết chết con chó sói rồi ăn thịt chó sói và bố thí thịt chó sói đến các tỳ khưu đang đi khất thực. Các vị tỳ khưu sau khi thọ dụng thịt chó sói rồi vào ngụ ở trong rừng. Những con chó sói (nhận biết được) mùi thịt chó sói nên đã vồ lấy các vị tỳ khưu. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, không nên thọ dụng thịt chó sói; vị nào thọ dụng thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Dứt tụng phẩm “Suppiya” là phần thứ nhì. [61] Sau đó, khi đã ngự tại thành Bārāṇasī theo như ý thích, đức Thế Tôn đã ra đi du hành về phía Andhakavindaṃ cùng với đại chúng tỳ khưu gồm có một ngàn hai trăm năm mươi vị tỳ khưu. Vào lúc bấy giờ, dân chúng trong xứ sở cho người chất lên các xe hàng nhiều muối, dầu ăn, gạo lức, và vật thực loại cứng rồi lần lượt nối đuôi theo sau hội chúng tỳ khưu có đức Thế Tôn đứng đầu (nghĩ rằng): “Khi nào chúng tôi đến phiên, khi ấy chúng tôi sẽ thực hiện bữa trai phạn” và có số lượng là năm trăm người ăn thức ăn còn thừa. Sau đó, trong khi tuần tự du hành đức Thế Tôn đã ngự đến Andhakavindaṃ. Khi ấy, có người bà-la-môn nọ không nhận được phiên nên đã khởi ý điều này: “Hơn hai tháng nay, ta đã theo sau hội chúng tỳ khưu có đức Thế Tôn đứng đầu (nghĩ rằng): ‘Khi nào ta đến phiên, khi ấy ta sẽ thực hiện bữa trai phạn,’ và ta không nhận được phiên. Mà ta thì đơn chiếc, nhiều công việc gia đình đã bị ta bỏ bê. Hay là ta nên nhìn xem ở nhà ăn và ta nên chuẩn bị sẵn sàng món gì ở nhà ăn không có?” Sau đó, người bà-la-môn ấy trong khi nhìn xem ở nhà ăn đã không thấy hai món là cháo và mật viên. Khi ấy, người bà-la-môn ấy đã đi đến gặp đại đức Ānanda, sau khi đến đã nói với đại đức Ānanda điều này: - Thưa ngài Ānanda, ở đây tôi không nhận được phiên nên đã khởi ý điều này: “Hơn hai tháng nay, ta đã theo sau hội chúng tỳ khưu có đức Thế Tôn đứng đầu (nghĩ rằng): ‘Khi nào ta đến phiên, khi ấy ta sẽ thực hiện bữa trai phạn,’ và ta không nhận được phiên. Mà ta thì đơn chiếc, nhiều công việc gia đình đã bị ta bỏ bê. Hay là ta nên nhìn xem ở nhà ăn và ta nên chuẩn bị sẵn sàng món gì ở nhà ăn không có?” Thưa ngài Ānanda, trong khi nhìn xem ở nhà ăn tôi đây đã không thấy hai món là cháo và mật viên. Thưa ngài Ānanda, nếu tôi chuẩn bị sẵn sàng thì Ngài Gotama có thọ nhận cháo và mật viên của tôi hay không? - Này ông bà-la-môn, như thế thì tôi sẽ hỏi đức Thế Tôn. Khi ấy, đại đức Ānanda đã trình sự việc ấy lên đức Thế tôn. - Này Ānanda, như vậy thì bảo ông ta hãy cho chuẩn bị sẵn sàng. (Sau đó, đại đức Ānanda đã nói với người bà-la-môn như vầy): - Này ông bà-la-môn, như vậy thì ông hãy cho chuẩn bị sẵn sàng. Sau đó, khi trải qua đêm ấy người bà-la-môn ấy đã cho người chuẩn bị sẵn sàng nhiều cháo và mật viên rồi đem dâng đến đức Thế Tôn: - Bạch Ngài Gotama, xin hãy thọ lãnh cháo và mật viên của tôi. - Này bà-la-môn, như thế thì hãy dâng đến các vị tỳ khưu. Các vị tỳ khưu ngần ngại nên không thọ lãnh. - Này các tỳ khưu, hãy thọ lãnh và hãy thọ dụng. Khi ấy, người bà-la-môn ấy đã tự tay làm hài lòng và thỏa mãn hội chúng tỳ khưu có đức Phật đứng đầu với nhiều cháo và mật viên. Đến khi đức Thế Tôn đã thọ thực xong có cánh tay đã được rửa và bàn tay đã rời khỏi bình bát, người bà-la-môn ấy đã ngồi xuống ở một bên. Khi ấy, đức Thế Tôn đã nói với người bà-la-môn ấy đang ngồi một bên điều này: - Này bà-la-môn, đây là mười điều lợi ích của cháo. Mười điều ấy là gì? Trong khi bố thí cháo (người ấy) bố thí tuổi thọ, bố thí sắc đẹp, bố thí sự an lạc, bố thí sức mạnh, bố thí trí tuệ, người đã húp cháo dứt hẳn cơn đói, chận đứng cơn khát, điều hòa gió, làm sạch bàng quang, và làm tiêu hóa phần (vật thực) thô còn lại chưa được tiêu hóa. Này bà-la-môn, đây là mười điều lợi ích của cháo. [62] Người nào bố thí cháo [63] Khi ấy, đức Thế Tôn sau khi tùy hỷ công đức của người bà-la-môn bằng những lời kệ này rồi đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: - Này các tỳ khưu, ta cho phép (thọ dụng) cháo và mật viên. [64] Dân chúng đã nghe rằng: “Nghe nói đức Thế Tôn cho phép cháo và mật viên.” Vào buổi sáng sớm, họ đã cho chuẩn bị sẵn sàng cháo đặc và mật viên. Các tỳ khưu vào buổi sáng sớm được thỏa mãn với cháo đặc và mật viên nên không thọ thực được như ý ở chỗ thọ thực. Vào lúc bấy giờ, hội chúng tỳ khưu có đức Phật đứng đầu đã được vị quan đại thần nọ mới có đức tin thỉnh mời vào ngày hôm sau. Khi ấy, vị quan đại thần mới có đức tin ấy đã khởi ý điều này: “Hay là ta nên chuẩn bị sẵn sàng một ngàn hai trăm năm mươi đĩa thịt cho một ngàn hai trăm năm mươi vị tỳ khưu rồi sẽ dâng đến cứ mỗi một vị tỳ khưu là một đĩa thịt?” Sau đó, khi trải qua đêm ấy vị quan đại thần mới có đức tin ấy đã cho chuẩn bị sẵn sàng thức ăn thượng hạng loại cứng loại mềm và một ngàn hai trăm năm mươi đĩa thịt rồi cho người thông báo thời giờ đến đức Thế Tôn: - Bạch ngài, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong. Khi ấy vào buổi sáng, đức Thế Tôn đã mặc y, cầm y bát, rồi đi đến tư dinh của vị quan đại thần mới có đức tin ấy, sau khi đến đã ngồi xuống trên chỗ ngồi được sắp đặt sẵn cùng với hội chúng tỳ khưu. Sau đó, vị quan đại thần mới có đức tin ấy phục vụ các vị tỳ khưu ở trong nhà ăn. Các vị tỳ khưu đã nói như vầy: - Này đạo hữu, chỉ dâng chút ít thôi. Này đạo hữu, chỉ dâng chút ít thôi. - Thưa các ngài, chớ có thọ lãnh chỉ chút ít (vì nghĩ rằng): “Vị quan đại thần này mới có đức tin.” Tôi đã cho chuẩn bị nhiều vật thực loại cứng loại mềm và một ngàn hai trăm năm mươi đĩa thịt, tôi sẽ dâng đến mỗi một vị tỳ khưu là một đĩa thịt. Thưa các ngài, hãy thọ lãnh theo như ước muốn. - Này đạo hữu, không phải vì lý do ấy mà chúng tôi thọ lãnh chỉ chút ít; tuy nhiên vì vào sáng sớm chúng tôi đã được thỏa mãn với cháo đặc và mật viên rồi, cho nên chúng tôi thọ lãnh chỉ chút ít. Khi ấy, vị quan đại thần mới có đức tin ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - Tại sao các đại đức đã được tôi thỉnh mời lại thọ dụng cháo đặc của người khác? Không lẽ tôi không đủ khả năng để bố thí theo như ước muốn hay sao? Rồi trở nên giận dữ, không còn hoan hỷ, và có ý muốn lăng mạ nên đã đi đến và trong khi để đầy bình bát của các vị tỳ khưu (nói rằng): - Hãy ăn đi hoặc hãy mang đi. Sau đó, vị quan đại thần mới có đức tin ấy đã tự tay làm hài lòng và thỏa mãn hội chúng tỳ khưu có đức Phật đứng đầu với thức ăn thượng hạng loại cứng loại mềm. Đến khi đức Thế Tôn đã thọ thực xong bàn tay đã rời khỏi bình bát, vị quan đại thần mới có đức tin ấy đã ngồi xuống ở một bên. Khi ấy, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho vị quan đại thần mới có đức tin ấy đang ngồi một bên bằng bài Pháp thoại rồi đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Khi đức Thế Tôn ra đi không lâu, vị quan đại thần mới có đức tin ấy đã khởi lên sự ăn năn, đã khởi lên nỗi ân hận: “Thật là điều không lợi ích đã có cho ta! Thật là điều lợi ích đã không có cho ta! Ta đã đạt được điều xấu! Ta đã không đạt được điều tốt! Là việc ta đã trở nên giận dữ, không còn hoan hỷ, và có ý muốn lăng mạ nên đã đi đến và trong khi để đầy bình bát của các vị tỳ khưu (nói rằng): ‘Hãy ăn đi hoặc hãy mang đi.’ Ta đã tạo ra được nhiều điều gì, là phước báu hay là tội lỗi?” Sau đó, vị quan đại thần mới có đức tin ấy đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, vị quan đại thần mới có đức tin ấy đã nói với đức Thế Tôn điều này: - Bạch ngài, ở đây khi đức Thế Tôn ra đi không lâu, con đã khởi lên sự ăn năn, đã khởi lên nỗi ân hận: “Thật là điều không lợi ích đã có cho ta! Thật là điều lợi ích đã không có cho ta! Ta đã đạt được điều xấu! Ta đã không đạt được điều tốt! Là việc ta đã trở nên giận dữ, không còn hoan hỷ, và có ý muốn lăng mạ nên đã đi đến và trong khi để đầy bình bát của các vị tỳ khưu (nói rằng): ‘Hãy ăn đi hoặc hãy mang đi.’ Ta đã tạo ra được nhiều điều gì, là phước báu hay là tội lỗi?” Bạch ngài, con đã tạo ra được nhiều điều gì, là phước báu hay là tội lỗi? - Này đạo hữu, kể từ lúc ngươi thỉnh mời hội chúng tỳ khưu có đức Phật đứng đầu cho ngày hôm sau, từ lúc ấy ngươi đã tạo ra được nhiều phước báu. Kể từ lúc mỗi một phần cơm của ngươi được mỗi một vị tỳ khưu thọ lãnh, từ lúc ấy ngươi đã tạo ra được nhiều phước báu. Các cõi trời đã được thành tựu cho ngươi rồi. Khi ấy, vị quan đại thần mới có đức tin ấy (nghĩ rằng): “Nghe nói ta có được điều lợi ích! Nghe nói ta đã đạt được điều tốt! Nghe nói ta đã tạo ra được nhiều phước báu! Nghe nói các cõi trời đã được thành tựu cho ta!” nên mừng rỡ phấn chấn đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, và ra đi. Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và hỏi các tỳ khưu rằng: - Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu thọ dụng cháo đặc của người khác khi đã được thỉnh mời của một nơi khác, có đúng không vậy? - Bạch Thế Tôn, đúng vậy. Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: - Này các tỳ khưu, vì sao những kẻ rồ dại ấy lại thọ dụng cháo đặc của người khác khi đã được thỉnh mời của một nơi khác? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ...(như trên)... Sau khi khiển trách, ngài đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: - Này các tỳ khưu, không nên thọ dụng cháo đặc của người khác khi đã được thỉnh mời của một nơi khác; vị nào thọ dụng thì nên được hành xử theo Pháp.[11] [65] Sau đó, khi đã ngự tại Andhakavinda theo như ý thích, đức Thế Tôn đã ra đi du hành về phía thành Rājagaha cùng với đại chúng tỳ khưu gồm có một ngàn hai trăm năm mươi vị tỳ khưu. Vào lúc bấy giờ, Velaṭṭha Kaccāna đang trên đường xa từ thành Rājagaha đi Andhakavinda cùng với năm trăm xe hàng toàn bộ đều chất đầy các hũ mật đường. Đức Thế Tôn đã nhìn thấy Velaṭṭha Kaccāna từ đàng xa đang đi lại, sau khi nhìn thấy đã rời đường lộ và ngồi xuống ở gốc cây nọ. Sau đó, Velaṭṭha Kaccāna đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng ở một bên. Khi đã đứng một bên, Velaṭṭha Kaccāna đã nói với đức Thế Tôn điều này: - Bạch ngài, con muốn dâng đến mỗi một vị tỳ khưu một hũ mật đường - Này Kaccāna, như vậy thì ngươi hãy mang lại chỉ một hũ mật đường thôi. - Bạch ngài, xin vâng. Rồi Velaṭṭha Kaccāna nghe theo đức Thế Tôn đã cầm lấy chỉ một hũ mật đường rồi đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã nói với đứcThế Tôn điều này: - Bạch ngài, hũ mật đường đã được mang lại. Bạch ngài, con sẽ thực hành như thế nào đây? - Này Kaccāna, như thế thì ngươi hãy dâng mật đường đến các vị tỳ khưu. - Bạch ngài, xin vâng. Rồi Velaṭṭha Kaccāna nghe theo đức Thế Tôn sau khi dâng mật đường đến các vị tỳ khưu rồi đã nói đức Thế Tôn điều này: - Bạch ngài, mật đường đã được dâng đến các vị tỳ khưu, và nhiều mật đường như vầy vẫn còn thừa lại. Bạch ngài, con sẽ thực hành như thế nào đây? - Này Kaccāna, như thế thì ngươi hãy dâng mật đường đến các vị tỳ khưu theo như ước muốn. - Bạch ngài, xin vâng. Rồi Velaṭṭha Kaccāna nghe theo đức Thế Tôn sau khi dâng mật đường đến các vị tỳ khưu theo như ước muốn rồi đã nói đức Thế Tôn điều này: - Bạch ngài, mật đường đã được dâng đến các vị tỳ khưu theo như ước muốn, và nhiều mật đường như vầy vẫn còn thừa lại. Bạch ngài, con sẽ thực hành như thế nào đây? - Này Kaccāna, như thế thì ngươi hãy làm cho các vị tỳ khưu được thỏa mãn với nhiều mật đường. - Bạch ngài, xin vâng. Rồi Velaṭṭha Kaccāna nghe theo đức Thế Tôn đã làm cho các vị tỳ khưu được thỏa mãn với nhiều mật đường. Một số các vị tỳ khưu đã chứa đầy các bình bát, (một số) đã chứa đầy các túi lọc nước và các túi xách. Rồi Velaṭṭha Kaccāna sau khi đã làm cho các vị tỳ khưu được thỏa mãn với nhiều mật đường rồi đã nói đức Thế Tôn điều này: - Bạch ngài, các vị tỳ khưu đã được thỏa mãn với nhiều mật đường, và nhiều mật đường như vầy vẫn còn thừa lại. Bạch ngài, con sẽ thực hành như thế nào đây? - Này Kaccāna, như thế thì ngươi hãy cho mật đường đến những người ăn thức ăn còn thừa. - Bạch ngài, xin vâng. Rồi Velaṭṭha Kaccāna nghe theo đức Thế Tôn sau khi đã cho mật đường đến những người ăn thức ăn còn thừa rồi đã nói đức Thế Tôn điều này: - Bạch ngài, mật đường đã được cho đến những người ăn thức ăn còn thừa, và nhiều mật đường như vầy vẫn còn thừa lại. Bạch ngài, con sẽ thực hành như thế nào đây? - Này Kaccāna, như thế thì ngươi hãy cho mật đường đến những người ăn thức ăn còn thừa theo như ước muốn. - Bạch ngài, xin vâng. Rồi Velaṭṭha Kaccāna nghe theo đức Thế Tôn sau khi đã cho mật đường đến những người ăn thức ăn còn thừa theo như ước muốn rồi đã nói đức Thế Tôn điều này: - Bạch ngài, mật đường đã được cho đến những người ăn thức ăn còn thừa theo như ước muốn, và nhiều mật đường như vầy vẫn còn thừa lại. Bạch ngài, con sẽ thực hành như thế nào đây? - Này Kaccāna, như thế thì ngươi hãy làm cho những người ăn thức ăn còn thừa được thỏa mãn với nhiều mật đường. - Bạch ngài, xin vâng. Rồi Velaṭṭha Kaccāna nghe theo đức Thế Tôn đã làm cho những người ăn thức ăn còn thừa được thỏa mãn với nhiều mật đường. Một số người ăn thức ăn còn thừa đã chứa đầy các lọ, các bình, (một số) đã chứa đầy các giỏ, và dùng luôn cả phần y ở phía trước (túm lại để chứa đường). Rồi Velaṭṭha Kaccāna sau khi đã làm cho những người ăn thức ăn còn thừa được thỏa mãn với nhiều mật đường rồi đã nói đức Thế Tôn điều này: - Bạch ngài, những người ăn thức ăn còn thừa đã được thỏa mãn với nhiều mật đườn |